ĐỐT SÓNG CAO TẦN QUA PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THẬN KÍCH THƯỚC U < 3 cm: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP
Từ khóa:
Đốt sóng cao tần, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc, ung thư thận kích thước u nhỏ, báo cáo trường hợpTóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả trung hạn của phương pháp đốt sóng cao tần qua nội soi sau phúc mạc điều trị ung thư thận có kích thước khối u < 3cm dựa trên báo cáo 2 trường hợp. Qua đó tìm hiểu sâu thêm về phương pháp qua hồi cứu y văn. Đối tượng và phương pháp: Đốt sóng cao tần qua phẫu thuật nội soi sau phúc mạc được thực hiện cho 2 khối u thận kích thước < 3 cm trên 2 bệnh nhân. Các dữ liệu theo dõi đánh giá bao gồm lâm sàng, nồng độ creatinine, chụp cắt lớp vi tính có thuốc cản quang để đánh giá các tiêu chuẩn bệnh lý. Tái phát bệnh được định nghĩa là tăng kích thước khối u hoặc phát sinh thêm u mới trên hình ảnh cắt lớp vi tính có thuốc cản quang mỗi 3 tháng. Kết quả: Hai bệnh nhân (1 nam và 1 nữ, lần lượt là 61 tuổi và 48 tuổi). có khối u thận kích thước là 23 mm và 28 mm. Vị trí khối u lần lượt ở cực trên thận phải và cực giữa thận trái. Kết quả chụp cắt lớp vi tính có cản quang nghi ngờ ung thư thận. 1 trường hợp được làm sinh thiết trong mổ có kết qua ung thư thận. Thời gian thực hiện phẫu thuật 35 phút - 45 phút. Thời gian đốt sóng cao tần tử 20 phút - 30 phút. Không ghi nhận tai biến, biến chứng trong và sau mổ. Thời gian nằm viện sau mổ là 3 ngày. Theo dõi sau 18 tháng và 9 tháng lần lượt cho 2 bệnh nhân cho thấy hình ảnh trên chụp cắt lớp vi tính có cản quang hình ảnh khối u nhỏ lại chỉ để lại vết sẹo, không có dấu hiệu tái phát. Nồng độ creatinine ổn định so với trước phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc đốt sóng cao tần dường như là an toàn và hiệu quả cho ung thư thận kích thước nhỏ < 3 cm. Sau 18 tháng theo dõi, kết quả về mặt ung thư học không cho thấy bằng chứng tái phát.
Tài liệu tham khảo
1. Bex A, Albiges L, Bedke J, et al. EAU Guidelines on Renal Cell Carcinoma. Arnhem, The Netherlands: EAU Guidelines Office; 2025. ISBN 978-94-92671-29-5.
2. Ziglioli F, De Filippo M, Cavalieri DM, et al. Percutaneous radiofrequency ablation (RFA) in renal cancer: how to manage challenging masses. A narrative review. Acta Biomed. 2022;93(5):e2022220. doi:10.23750/abm.v93i5.12827.
3. Johnson BA, Sorokin I, Cadeddu JA. Ten-year outcomes of renal tumor radio frequency ablation. J Urol. 2019;201(2):251-258. doi:10.1016/j.juro.2018.08.045.
4. Lee JY, Yang SW, Lim JS. Advocating laparoscopic radiofrequency ablation as an optimal treatment for small renal cell carcinoma in special patient populations. Investig Clin Urol. 2023;64(5):510-511. doi:10.4111/icu.20230262.
5. Campbell SC, Uzzo RG, Karam JA, Chang SS, Clark PE, Souter L. Renal mass and localized renal cancer: evaluation, management, and follow-up: AUA guideline: part II. J Urol. 2021;206(2):209-218. doi:10.1097/JU.0000000000001912.
6. Young EE, Castle SM, Gorbatiy V, Leveillee RJ. Comparison of safety, renal function outcomes and efficacy of laparoscopic and percutaneous radio frequency ablation of renal masses. J Urol. 2012;187(4):1177-1182. doi:10.1016/j.juro.2011.11.099.
7. Sorokin I, Chamarthy M, Cadeddu JA. How I do it: percutaneous radiofrequency ablation (RFA). Can J Urol. 2017;24(1):8679-8683.
8. Trudeau V, Larcher A, Boehm K, et al. Comparison of postoperative complications and mortality between laparoscopic and percutaneous local tumor ablation for T1a renal cell carcinoma: a population-based study. Urology. 2016;89:63-68. doi:10.1016/j.urology.2015.08.043.
9. Gunn AJ, Gervais DA. Percutaneous ablation of the small renal mass—techniques and outcomes. Semin Intervent Radiol. 2014;31(1):33-41. doi:10.1055/s-0033-1363841.
Lượt tải xuống
Ngày Xuất bản
Số
Chuyên mục
Giấy phép
Bản quyền (c) 2026 Hoàng Văn Công, Phan Duy Nhật (Tác giả)

Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép Creative Commons Ghi công 4.0 Quốc tế.